MẠM ĐÀM VỀ THƠ, NGHỆ THUẬT, VÀ PHÊ BÌNH CẤU TRÚC LUẬN

VỚI NHÀ THƠ KIÊM SỬ GIA VĂN NGUYÊN DƯỠNG

 

CUNG TRẦM TƯỞNG

 

         1- Xuất phát từ quan điểm vật là cái nó giấu, tiến trình của mọi sự sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc bắt đầu với việc tháo gỡ lớp vỏ hiện thực của sự vật để khám phá yếu tính cốt tuỷ của nó, rồi từ đó sử dụng các phương pháp và chất liệu của nghệ thuật như màu sắc, ánh sáng, âm thanh và ngôn ngữ để cấu tạo lại và cách điệu hoá sự vật thành một bản nhạc, bức hoạ, áng văn hay bài thơ, tức một chỉnh thể mỹ học ý nghĩa hơn, khả tri hơn, có hồn hơn.

 

          2- Các nhà cấu trúc luận nhìn thế giới qua lăng kính cấu trúc của văn bản được họ phân tích. Họ chủ trương phá cái cấu trúc (déstructurer) của văn bản được họ coi như một sự vật văn chương để phát hiện nghĩa và yếu tính - sens et essence - của nó.

 

          3- Xét theo quan điểm tác phẩm là sự hoá thân của sự vật trên thì không có chủ nghĩa hiện thực thuần tuý trong nghệ thuật. Khác với chân dung trong một bức ảnh chụp là sự sao chép lại hiện thực, chân dung trong một hoạ phẩm hay một tác phẩm văn chương là tạo phẩm của sự lý tưởng hoá hiện thực thành một hình tượng nghệ thuật, tức sự hiện thân của cái Đẹp do hoa tay hay tài nghệ người nghệ sĩ làm nên.

 

          Điều kiện tiên quyết của nghệ thuật vẽ hay tả chân dung, một nghệ thuật ba chiều, không yêu cầu người mẫu phải đẹp - nàng Mona Lisa ngoài đời đâu có phải là một sắc nước nghiêng thành - mà yêu cầu người nghệ sĩ phải thể hiện sống động cái nội dung tinh thần đặc thù, tức bản sắc, của đối tượng tàng ẩn dưới vẻ ngoại hiện như phong thái, ánh mắt, nụ cười của nó. Một bức chân dung đẹp là sự tái cấu tạo điệu nghệ trên mặt bằng của nó những góc cạnh và rung cảm thầm kín của tâm hồn người mẫu, do đó có thể gọi nghệ thuật vẽ hay tả chân dung trong một chừng mực nào đó là một nghệ thuật cấu trúc pháp.

 

          4- Suy rộng ra, ngoài chức năng thể hiện quan điểm duy mỹ của người nghệ sĩ, nghệ thuật còn có một chức năng khác không kém quan trọng, đó là sự cố định vào trong khuôn khổ của một tác phẩm sự chuyển động miên viễn của cõi vô thường “để một trăm năm sau, khi một kẻ lạ ngắm nó, nó sẽ chuyển động trở lại bởi vì nó là sự sống.” (…so that a hundred years later, when a stranger looks at it, it moves again since it is life.) (William Faulkner)

 

          5- Triết học của nghệ thuật là một chủ nghĩa đa nguyên, hiểu như mỗi người nghệ sĩ chân chính sáng tạo theo thế giới quan và phong cách riêng của mình, do đó mỗi đối tượng nghệ thuật có thể có nhiều vẻ đẹp khác nhau. Dưới mắt người nghệ sĩ sự vật không chỉ là cái nó là mà còn là cái nó có thể là, nhưng là cái nó khác chứ không phải cái khác nó. Sáng tạo nghệ thuật tiến hành trong khoảng cách bản thể này, giữa hữu thể và khả hữu thể.

 

          Một phong cảnh thiên nhiên cho dù có đẹp đến đâu chăng nữa cũng không đẹp bằng hoá thân của nó trong một tác phẩm nghệ thuật bởi vì nó thiếu cái hồn người (nghệ sĩ). Hồn này là nguồn năng lượng bơm sự sống vào tác phẩm và làm nên tinh thần, tức ý nghĩa, của tác phẩm.

 

          Nhận xét trên là một hệ luận của chủ nghĩa quy tâm nhân văn - anthropocentrisme  humaniste - áp dụng vào lãnh vực mỹ học.

 

          6- Không gian của nghệ thuật, một không gian thoáng, mở, bát ngát, luôn có ở phía trước những khoảng trống thúc giục người nghệ sĩ đến trồng lên đó khu vườn hoa thơm cỏ lạ của mình. Một không gian hương men ăm ắp ở đó người nghệ sĩ có dịp được làm một thiên thần, trí tưởng của hắn được tha hồ bay bổng, sự độc đáo của hắn được tuyên dương, kể cả cái ngông của hắn cũng được đón nhận. Vì vậy có thể gọi tác phẩm của hắn là một thứ tuyên ngôn hùng hồn của một chủ nghĩa tự do cá nhân tuyệt đối.

 

          Không gian nghệ thuật cũng là một không gian xã hội ở đó cái đẹp giữ vai trò vị trọng tài có tiếng nói quyết định được mọi người tuân theo. Trong khi tôn giáo và chính trị có thể gây chia rẽ hay xung đột, cái đẹp nghệ thuật đoàn kết nhân tâm và tạo đồng thuận xã hội. Vì vậy các nhà cầm quyền độc tài toàn trị không thể không cô lập, đàn áp giới nghệ sĩ tự do, một là vì lý do an ninh chính trị, hai là vì bản chất chúng dị ứng với cái đẹp nghệ thuật.

 

          7- Anh có nêu lên sắc thái siêu thực của thơ tôi được anh phân tích một cách khoa học. Xin cám ơn.

 

          Những mảng thơ của tôi được anh trích dẫn nên được coi như một nỗ lực sử dụng hết công suất của trí năng và óc tưởng tượng thi nhân nhằm định hình, bằng ngôn ngữ tư duy, cho cái lý siêu hình, siêu nhiên, siêu của siêu thực, cái lý tồn tại tối thượng của muôn vật, chi phối Thần Ngôn Logos và theo tôi là đỉnh nguồn tinh tuyền - source éthérée, ethereal fountain - của dòng thơ tinh tuyền.

 

          Tầm hiểu biết đơn phương của khoa học và triết học đã tỏ ra bất cập trước sự thách thức ghê gớm của những vấn nạn siêu hình như nguyên uỷ của vũ trụ, vật chất là gì, con người đến từ đâu và đi về đâu, và sự tương quan của nó với muôn vật, nên cần đến sự tiếp tay của thần học và những cú nhảy vọt siêu hình phi thường và hữu ích của trí tưởng thi nhân dám phá chấp, giũ bỏ những giá trị ước lệ đóng cặn, nằm ì trong thời gian để phiêu hốt đến những vùng tân biên unground, nơi không là đất, không có bất cứ điểm tựa hay hệ quy chiếu nào khác ngoài cái linh tri, linh thị, linh cảm của lãng thi nhân. Nơi của sự cô đơn tuyệt đối. Ngọn nguồn sáng tạo của dòng thơ tinh tuyền: Bằng thuần khiết tạo sinh/ Như Đức Mẹ Đồng Trinh.

 

          Kinh nghiệm cho thấy, trong chuyến phiêu lưu lãng mạn của họ vào cõi siêu hình, siêu của siêu thực mù mịt, có hơn một hành giả vì thiếu bản lĩnh về cả kiến thức lẫn ý chí tự chủ, tự tin, sự ngạo nghễ và trí tưởng tượng, lại không tìm ra được một thứ ngôn ngữ ngang tầm với yêu cầu của vấn đề, nên đã sa chân vào một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng mà ngôn ngữ dân gian gọi là chứng “tẩu hoả nhập ma”,  biến họ thành một con bệnh hoang tưởng loạn trí nhớ (dysmnésique), loạn phối hợp từ (dysphasique), loạn ngữ pháp (agrammatique), tức là những triệu chứng của bệnh cuồng ngôn sảng ngữ (dislogie) - một dạng của bệnh vong thân cấp tính.

 

          8- Cám ơn anh đã có những nhận xét sâu sắc về chủ đề phục sinh của thơ tôi. Tôi xin bổ túc với đôi ba ý kiến chủ quan của mình.

 

          Tôi luôn bị quyến rũ bởi vẻ đẹp lộng lẫy của lửa. Cũng như thi hào Mallarmé, tôi nghĩ nguyên tố lửa là một tác nhân tẩy trần mầu nhiệm. Ý tưởng siêu hình này đã khiến tôi làm hai câu thơ: Mai mốt thu tàn ran rực lửa / Một rừng phong đỏ lá quyên thân.

 

          Cảnh tượng cả một cánh rừng phong ngút ngàn đỏ ối như đang bốc lửa dưới ánh nắng lung linh của bầu trời thu Minnesota hiện lên như một điện thờ vời vợi có tác dụng giải phóng tôi, ít nhất là trong lúc ấy, khỏi nỗi sợ chết thường hằng và khiến tôi ung dung suy nghĩ về ý nghĩa và cứu cánh của sự chết. Đối với tôi cảnh “một rừng phong đỏ lá quyên thân” hàm chứa một ý nghĩa thiêng liêng làm tôi liên tưởng đến sự tuẫn đạo, một cái chết vẻ vang. Một thứ bouquet final, chùm pháo hoa nguy nga đêm lễ tạ từ. Bản kết tấu lẫm liệt, uy linh, hùng hồn mà cũng là khúc dạo huy hoàng của một hoá sinh vinh hiển.

 

          Nên cứ mỗi năm, dù có đi đâu xa, tôi vẫn phải trở về với mùa thu Minnesota để được gần gũi với cái chết của rừng phong, được sống cái cảm giác siêu thoát lâng lâng nó hằng tạo cho hồn tôi và cái nghịch lý siêu hình kỳ diệu là nó cũng đồng thời dẫn tôi trở lại đời để sống an nhiên hơn, tự tại hơn, đằm thắm hơn, san sẻ như cây phong trước lúc lâm chung vẫn hớn hở dốc sức tặng đời những dòng nhựa ngọt quánh.

 

          9- Với sự đóng góp to lớn của các nhà cấu trúc luận lỗi lạc như Hjelmskev, Troubetzkoy, R. Jakobson, Claude Lévi-Strauss, R. Barthes, J. Derrida, N. Chomsky, và vân vân, ngôn ngữ học đã trở thành một khoa học chinh xác mà tầm ảnh hưởng phủ trùm lên các ngành khoa học khác như xã hội học, tâm lý học, khảo sử học, huyền thoại học, nhân loại học, kể cả tin học nữa.

 

          Sự áp dụng thuyết cấu trúc vào lãnh vực văn chương đã dấy lên một cuộc cách mạng phê bình văn học mà một trong những ngọn cờ đầu là Jacques Derrida với cái phương pháp huỷ tạo - déconstruction - triệt để của ông. Thật ra phương pháp phê bình cấu trúc luận chủ yếu gồm bốn bước: mổ xẻ (disséquer), tháo gỡ (disloquer), phá cấu trúc (déstructurer) và huỷ tạo (déconstruire), nhưng bước thứ tư này gây chấn động, dị nghị mạnh nhất vì tính chất bạo hành của nó.

 

          Derrida mô tả phương pháp phê bình của ông với một ngôn ngữ gợi hình đẹp như thơ.

 

          Trước hết là tháo tung với sự đam mê hí hoáy, tỉ mỉ của một bricoleur cái cấu trúc nội tại của một văn bản tác phẩm được coi như một sự vật văn chương - une chose littéraire, rồi áp dụng lên nó những quy tắc làm việc khoa học từng được áp dụng lên những sự vật vật lý. Derrida ví thao tác này như một tai hoạ thiên nhiên hay do con người tạo ra phá huỷ tan hoang kiến trúc một thành phố nhằm khám phá cái yếu tố bất biến cốt tuỷ của nó còn lởn vởn trên những đống hoang phế xác xơ như một ám ảnh, sự ẩn hiện chập chờn của cái hồn thu thảo, bóng tịch dương, cái hồn của sự vật văn chương, tức cái “sens et culture” của nó như một hữu thể ngôn ngữ thuần tuý, được các nhà cấu trúc luận chọn làm đối tượng trung tâm cho phương pháp phê bình thuần tuý - critique pure - của họ.

 

          Derrida viết: “Ainsi, le relief et le dessin des structures apparaissent mieux quand le contenu, qui est l’énergie vivante du sens, est neutralisé. Un peu comme l’architecture d’une ville inhabitée ou soufflée, réduite à son squelette par quelque catastrophe de la nature ou de l’art. Ville non plus habitée ni simplement délaissée mais hantée plutôt par le sens et la culture. Cette hantise qui l’empêche de redevenir nature est peut-être le mode de présence ou d’absence de la chose même au langage pur. Langage pur que voudrait arbiter la littérature pure, objet de la critique pure. Il n’y a donc rien de paradoxal à ce que la conscience structuraliste soit conscience catastrophique, détruite et destructive, destructurante, comme l’est toute conscience ou au moins le moment décadent, période proper à tout movement de la conscience.” (L’écriture et la différence, page 13)

 

          10- Đề nghị đọc thêm Gérard Genette, Figure I và Figure II, đặc biệt hai chương Structuralisme et critique littéraire và Langage poétique, Poétique du langage, để có một cái nhìn cân đối hơn.

 

          Cố Tiến sĩ Nguyễn Thanh Nhã của Đại học Sorbonne, Paris, có những nhận xét như sau: “Nhưng muốn có một cái nhìn tổng hợp về cấu trúc chủ nghĩa, không thể bỏ qua một bên mặt tiêu cực của nó, vì phương pháp phân tích cấu trúc chính dựa trên tính khách quan và tính phổ cập như những đặc thù thuộc loại, do đó là một phương pháp phi lịch sử, bất chấp địa lý và tình tiết cá thể, thường đưa đến sự bảo vệ thực tại và trật tự định chế hiện hữu, ngăn chặn sự khai thông cho văn học và các khoa nhân văn.

 

          11- Về sự tương quan giữa âm và nghĩa của ngôn ngữ thơ, trong khi các nhà hình thái luận thuần tuý đề cao giá trị biểu cảm của âm chất tinh tuý - pure substance sonore - của những con chữ và coi nhẹ vai trò của phép chuyển nghĩa -trope - trong thi luật, thì thi hào Paul Valéry có một quan điểm trung dung: “Bài thơ là một sự ngập ngừng kéo dài giữa âm và nghĩa.” (Le poème, hésitation prolongée entre le son et le sens.”

 

          Về mặt âm, nhạc thơ là hình nhịp điệu của sự chuyển động vô thanh của tâm hồn thi nhân, nó chính là hồn thơ.

 

          Về mặt nghĩa, bài thơ là nhà ở của những con chữ mà sự nhoè nghĩa là một đặc tính bẩm sinh, những con chữ hạ sinh trên lằn ranh phiếm định - ambigu - giữa thức và mộng, thực tế và lý tưởng, nhân ngữ và thần ngôn.

 

          Sự tế nhị là làm sao tạo được mối tương quan hài hoà giữa hai yếu tố cấu thành ấy của ngôn ngữ thơ.

 

CUNG TRẦM TƯỞNG

Cuối thu năm 2012